THƯ VIỆN PHÁP BẢO NAMO84000

http://namo84000.com

PHẬT PHÁP VẤN ĐÁP P1/2 – HT TUYÊN HÓA

Hỏi Đáp Về Phá Thai và Vong Linh Thai Nhi

Tốt hơn hết là đề phòng vấn đề để không xảy ra hơn là tiếc nuối sau này.

Câu hỏi: Nếu có cặp vợ chồng không còn biện pháp nào khác ngòai phá thai vì những khó khăn kinh tế hay vì những lý do khác, hậu quả có nặng nề lắm không?

Hòa Thượng: Vì điều kiện kinh tế không cho phép có con thì, không nên để lỡ mang thai ngay từ đầu; như vậy, sẽ tránh được rắc rối về sau.  Cho là hiện thời có những khó khăn về tài chánh, tại sao họ phải đợi cho đến khi vấn đề xảy ra rồi mới đi tìm giải pháp? Họ phải tự cảnh giác về vấn đề này trước khi để nó xảy ra; tại sao không tìm những giải pháp  tốt đẹp  khác.  Có câu  nói, “Tại sao để ván đã đóng thuyền rồi mới mới nghĩ đến việc quan trọng là cần củi để nấu cơm.”.  Tại sao phải đợi đến muộn màng rồi mới tính. Họ cần phải nghĩ đến việc có thể có mang thai khi chiết tinh những chi tiêu hàng năm.

Câu hỏi: Bạch Hòa Thượng, có một số  những người mẹ không hôn thú đang gây ra nhiều vấn nạn  xã hội, rồi sau đó là  có việc phá thai … Con tự hỏi Hòa Thượng có ý kiến hay đề nghị gì về  vấn đề này.

Hòa Thượng: Quý vị đang đề cập về những bà mẹ độc thân.  Khổ thay, những người này đã đánh mất nhân phẩm, vì thế họ không tôn trọng những luật lệ trước khi lập gia đình.  Ngày nay, những người trẻ thích khiêu  vũ, xem phim ảnh, và ca hát.  Họ hưởng thụ ăn uống, vui chơi và tìm khóai lạc.  Những đam mê và hành vi dẫn đến sự mất nhân phẩm, đến độ họ không còn ý thức việc họ là con người.  Là người, phải có hành vi của người, nhưng họ lại giống như ma quỉ — lén lút  không tôn trọng luật lệ, muốn thử hết trước khi lập gia đình … và vì thế, họ có thai.  Những chuyện như thế này có thể không có gì quan trọng ở phương Tây, nhưng ở Trung Hoa thì thật xấu hổ.

Vấn đề này xảy ra do chỉ do một niệm vô minh:  Nam theo đuổi nữ, nữ tìm kiếm nam … Bởi vì vô minh,  nên hành nghiệp theo sau, sau khi hành nghiệp tạo tác thì có danh sắc, lục nhập, xúc, và thọ hiện hữu …, tất cả nhựng thứ này đều tạo tác bởi vô minh.. Do mê mờ, tình ái khởi sanh, tiếp theo là dục vọng muốn nắm bắt (thủ và hữu), và sau đó là nhiều vấn đề khác xuất hiện … cho đến khi già chết (lão, tử) đến. Toàn bộ chuỗi biến cố này được gọi là Pháp Mười Hai Nhân Duyên.

Vì người đời không hiểu Mười Hai Nhân Duyên nên, họ làm những việc trái với đạo lý.  Vì vậy vấn nạn của họ càng ngày càng lớn. Cho đến lúc họ mang thai, sự việc càng trở nên rắc rối hơn khi thay vì dưỡng thai bào để sinh nở, họ lại phá hủy bào thai lúc thai từ một đến bốn tháng tuổi.

Tội phá thai rất nặng.  Quý vị có  thể nghĩ chúng chỉ là con ma bé nhỏ, nhưng những con ma này có những năng lực tâm linh to lớn có thể làm quý vị chết hay mang những tật bệnh kỳ lạ, làm cho quý vị nói năng lảm nhảm và lẫn lộn đầu óc đến khi điên dại … Tội phá thai còn nặng  hơn tội giết người lớn.  Nếu quý vị không muốn có con, tại sao lại gây ra việc thụ thai?  Tại sao rắc rối như thế?  Khổ thay, đàn ông và đàn bà không hiểu đạo lý làm người nên những vấn đề này mới xảy ra.

Để giải quyết những vấn đề này, chúng ta cần cung cấp giáo dục về tình dục cho những người trẻ, và dạy họ đừng dính mắc vào tình ái cho đến khi khôn lớn trưởng thành; nếu không, họ sẽ gặp những vấn nạn khó khăn.  Chúng ta phải thúc đẩy mạnh mẽ để họ tuân theo những quy tắc này .

Câu hỏi: Bạch Hòa Thượng, nhân dịp Ngài trở lại Đài Loan, xin Ngài ban lời khuyên cho những đệ tử tại Đài Loan.

Hòa Thượng: Đàn ông và đàn bà cư xử đứng đắn với nhau  là nền tảng cho hòa bình quốc gia và thế giới.  Nếu người chồng không cư xử như người chồng; người vợ không cư xử như người vợ; và con cái hành xử không ra con cái, thì làm sao thế giới có thể tránh được hỗn lọan?  Tôi đề nghị mỗi người phải làm  tròn vai trò của mình là vợ hay chồng của mình, không ly dị , và chăm sóc con cái tốt đẹp.  Khi mỗi gia đình hạnh phúc và hài hòa thì quốc gia sẽ tự nhiên có hòa bình.

Ngòai ra, tôi khẩn cầu mọi người hãy ngưng lại việc phá thai! Hãy suy nghĩ xem, nếu những chúng sinh trong bào thai chưa kịp chào đời đã trở thành những oan hồn ; khắp nơi nhan nhản những hồn ma nhỏ bé phiêu bạt đòi mạngi thì  làm sao xã hội an lành được?  Những hồn ma nhỏ bé này cần phải gặp được người có Đạo hạnh và không tham tiền thì mới được siêu độ. Rất khó  đốiI phó vớiI những hồn ma nhỏ bé này!  Rất khó giải quyết những vấn đề này, vì vậy, với nghiệp chướng khắp nơi thì  làm sao có hòa bình?

Câu hỏi: Làm sao cứu Đài Loan?

Hòa Thượng: Bằng cách không phá thai, bằng cách  không giết hại chúng sinh.

Câu hỏi: Phá thai tạo nghiệp sát sanh.  Vì con không được học giáo lý Phật trước đây, con đã phạm tội sát sanh mà không biết.  Con có thể làm gì để đền bù lại nghiệp chướng của con?

Hòa Thượng: Bằng cách làm thêm nhiều việc phước thiện, bằng cách sám hối sửa đổi nhiều thêm, , và bằng cách niệm danh hiệu Phật thường xuyên hơn.

Câu hỏi: Con được nghe rằng  phá thai là sai trái  trong giáo lý Phật giáo, nhưng con đã phạm tôi này trong quá khứ mà không biết đó là sai trái.  Con có thể làm cái gì bây giờ để đền bù  lại những điều tai hại  mà con đã làm trong quá khứ?

Hòa Thượng: Không có điều tốt đẹp nào hơn là tự sửa đổi lỗi lầm của mình.  Dầu cho  tội của quý vị rất to lớn , đầy ngập trời, nếu quý vị thành tâm ăn năn và sửa đổi, thì các tộiI  sẽ tiêu sạch.

Câu hỏi: Ngày nay có nhiều quảng cáo “Cúng Dường Vong Linh Thai Nhi” trên báo hàng ngày và tạp chí.  Chúng con có thể  cúng dường những vong linh thai nhi này hay không, hay các vong linh thai nhi này nên được siêu độ ?

Hòa Thượng: Chữ “cúng dường” không thể dùng trong ý nghĩa này được, vì vong linh thai nhi không phải là Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Nếu quý vị xem đó là cúng dường vong linh thai nhi tức là đã rơi vào tà kiến vậy. Đó phải gọi là ‘siêu độ’. Siêu độ chúng sanh không giống cúng dường cho chúng sanh, bởi vì việc siêu độ giúp chúng lìa khổ được vui. Tuy nhiên, vong linh thai nhi mang mối oán hận rất lớn khó làm vơi đi được. bởi vì đó là món nợ tước đoạt sanh mạng thì phải được trả bằng cách đền lại sanh mạng. Thế nhưng, nếu các vong linh thai nhi đó gặp được những vị chân tu không tham tiền thì chúng có cơ hội được siêu độ..

Câu hỏi: Nhiều người bỏ tiền ra cúng những vong linh thai nhi, có thể nào những căm hận của các vong linh thai nhi này được đền bù hay không?

Hòa Thượng: Không.

Câu hỏi: Ngày nay có nhiều người lợi dụng để làm tiền người  khác bằng cách nói rằng có thể khuyên giải những  vong linh thai nhi.  Có những phật tử không tán thành  những việc làm  như vậy.  Thưa Hòa Thượng, ý của Hòa Thượng như thế nào?  Những vong linh thai nhi sẽ làm cho những kẻ thiếu nơ chúng bị bênh hay bị những vấn đề khác không? Có những người đã từng phá thai nhưng lại ngại ngùng sợ tốn tiền không mua bài vị để cầu nguyện cho vong linh thai nhi.  Bạch Hòa Thượng, Ngài nghĩ như thế nào về việc này?  Có thực là những vong linh này có thể gây rắc rối không?  Nếu như thế, làm sao để điều phục những vong linh thai nhi này?  Làm sao chúng ta có thể an ủi và làm chúng an lạc ?

Hòa Thượng: Tốt hơn hết là không nên có bài vị hơn là lập một bài vị. Tôi nói thế có nghĩa là gì? Người ta không nên phá thai ngay từ đầu; bằng cách ngăn ngừa phá thai thì không sát sinh. Vì không sát sinh, nên cần bài vị. Thỉnh một bài vị cho một vong linh thai nhi là “lo cái ngọn mà quên cái gốc.”, và giống như “bịt tai để đánh chuông”, vì đó là tự lừa dối mình. Những vong linh này có thể được siêu độ chăng? Món nợ này có thể giải quyết được chăng? Vâu trả lời là không chắc. Vì thế, nên ngăn ngừa việc xảy ra hơn là hối hận về sau này. Trước khi kết hôn, không nên uống thuốc ngừa thai hay giao hợp tình dục. Tại sao không thể đợi đến khi kết hôn? Tại sao lại vội vàng như thế?

Câu hỏi: Bạch Hòa Thượng, có những hiện tượng lạ trên thế giới ngày nay như nhiều thiếu nữ chưa kết hôn đi phá thai, bị cưỡng hiếp, và đồng tình luyến ái.  Là cha mẹ, chúng con ngày nay phải giáo dục con cái như thế nào để thanh thiếu niên có thể phát triển tâm hồn và thể xác trở thành những cá nhân tốt đẹp?

Hòa Thượng: Câu hỏi này xuất sắc vì nó liên quan đến giải pháp đúng đắn cho những vấn nạn trong xã hội chúng ta.  Các vấn nạn mà quý vị vừa nói đó đều rất đơn giản, dễ giải quyết.  Những thanh thiếu niên này từ đâu đến?  Những thanh thiếu niên có vấn đề này đều có cha mẹ, có phải không?  Tuy nhiên, những bậc cha mẹ này không biết cách làm cha mẹ đúng đắn,  làm cha mà không hành xử như một người cha; làm mẹ không hành xử như một người mẹ.  Mặc dù, họ sinh ra con cái, nhưng trọng tâm của họ không ở con cái, họ chỉ tham lam khoái lạc và thỏa mãn ham muốn tình dục.  Họ hành động chỉ để thỏa mãn chính họ, họ chỉ biết sinh đẻ mà không biết gì về cách giáo dục con cái.  Đàn ông và đàn bà ở đất nước chúng ta đang bắt chước các trào lưu ở Âu Châu và Mỹ Châu, đam mê tình ái và đắm say tình dục, hẹn hò bừa bãi và theo đuổi người khác phái; họ nghĩ họ rất thời thượng khi làm như vậy!  Nhiều người cho rằng nếu một người đàn ông mà không có bạn gái thì đó là một kẻ khờ.  Tương tự như vậy, nếu một cô gái không có bạn trai trước khi kết hôn thì bị cho là bị bệnh tâm thần và không ai muốn kết hôn với cô ta!  Vì những người này điên cuồng đắm mình vào tình ái và tình dục, họ chẳng quan tâm về con cái sau khi sinh ra chúng; họ chỉ quan tâm đến chính họ. Như thế, chỉ cần hai ngày rưỡi sau hôn lễ là họ bắt đầu chán nhau, và cuối cùng là ly dị.

Sau khi ly dị, con cái họ hoặc không có cha hoặc không có mẹ.  Rồi sau đó, quan tòa quyết định đứa bé sẽ ở ba ngày ở với cha , và bốn ngày ở với mẹ.  Vì họ không còn sống chung với nhau, con cái họ không cần biết trai hay gái sẽ đến ở với người cha một thời gian.  Người cha sẽ nói: “Mẹ con không làm tròn bổn phận một người mẹ.  Mẹ con không tốt, vì thế ba đã ly dị mẹ con và gặp người đàn bà khác.  Người bạn gái này của ba thật tuyệt vời, còn mẹ con là người tồi tệ nhất.”.  Đứa bé sẽ suy nghĩ: “Ô, mẹ mình thật tệ quá!”.  Khi đứa bé trở về nhà với mẹ, nó lơ là với mẹ nó và nói rằng: “Mẹ tồi tệ lắm!  Mẹ không xứng đáng làm mẹ con!”.  Đứa bé chỉ nghe câu chuyện một chiều từ cha nó.

Người mẹ bèn nghĩ: “Con mình thay đổi quá rồi! Tốt hơn là phải có một biện pháp.”.  Bà nói với con mình: “Ba con là một người đàn ông tồi tệ nhất.  Mẹ không thể chịu đựng ba con, vì thế mẹ đã phải ly dị với ba con.”.  Người mẹ còn nêu thật nhiều lý do khác về việc ly dị người chồng và làm cho đứa bé suy nghĩ rằng: “Ô, ba tôi là nguời đàn ông ông tồi tệ nhất; và mẹ tôi là người đàn bà tồi tệ nhất!  Tôi nên làm gì đây?  A! với cha mẹ như vậy, tôi cũng phải học cách để thành đứa bé tồi tệ nhất..”.  Đứa bé bắt đầu dùng ma túy và gây đủ thứ rắc rối.  Đứa bé không quan tâm bất cứ chuyện gì, kể cả tổ quốc, gia đình và cơ thể nó.  Nó nghĩ,: “Tôi là một hạt giống xấu; cả ba và mẹ tôi đều xấu; do đó tôi phải là người xấu.”.  Với thái độ này, đứa bé buông thả không còn biết phân biệt cái đúng, cái sai và làm bất cứ những gì nó thích.

Vì có những người đàn ông bị đàn bà bỏ, và có những người đàn bà bị đàn ông sao nhãng, họ đi quá trớn.  Họ trở thành người “đồng tình luyến ái”; và học những hành vi ngược lại nhân tính.  Bởi vì vợ chồng không biết cách cư xử với nhau như vợ chồng, cuối cùng họ tạo ra những vấn nạn khổng lồ mà chúng ta phải đương đầu ngày nay.  Khi gia đình đổ vỡ, quốc gia cũng đổ vỡ.  Nếu mọi người có thể như bà mẹ của Mạnh Tử hay bà mẹ của Nhạc Phi, cả hai đều biết dạy con trở thành vĩ nhân thánh thiện, thì sẽ không còn nhiều trẻ con gây rối lọan.  Tôi đã trả lời câu hỏi của quý vị, và tôi không biết là tôi nói đúng hay sai.  Nếu quý vị không thỏa mãn với câu trả lời của tôi, xin tìm hỏi những vị khác có khả năng hơn.

Về vấn đề phá thai, đó là một hành động vô nhân đạo!  Quý vị hãy suy nghĩ đi, nếu quý vị giết một bào thai chưa chào đời, quý vị sẽ nói rằng quả báo của hành vi này có nghiêm trọng hay không?  Bây giờ tôi sẽ nói cho quý vị điều này dù quý vị có tin hay không:  mặc dù thai nhi bị hủy phá chỉ là một thai nhi nhỏ bé, nhưng vong linh thai nhi này còn dữ dằn hơn cả vong linh người lớn!  Ngày nay bệnh ung thư trở nên khá thông thường trong xã hội chúng ta, và căn bệnh này một phần là do sự phá thai.  Vì càng có nhiều trường hợp phá thai, số vong linh thai nhi càng gia tăng, và những vong linh thai nhi này rãi độc tố khắp nơi làm người ta bất an.  Chúng nghĩ rằng: “Quý vị đã giết tôi sớm như vậy, tôi không để quý vị tránh thoát tội này đâu.  Tôi cũng sẽ giết quý vị !”. Vì thế, chúng ta có nhiều bệnh lạ lùng và không thuốc chữa.

Một Khi Mất Thân Người, Vạn Kiếp Không Được Lại

Khi các thai nhi bị phá thai, chúng mất thân người.  Ngày nay, số thai nhi chết do phá thai vượt quá số người đang sống!

Câu hỏi: Theo Phật giáo, “thân người khó có được” và “một khi chúng ta mất thân này, chúng ta không thể trở lại thân người trong nhiều vạn kiếp.”.  Như thế tại sao dân số thế giới hiện nay đang gia tăng nhanh chóng? Có vẻ như là số người sinh ra nhiều hơn số người chết. Phật giáo giải thích điều này như thế nào?

Hòa Thượng: Mặc dù mức sinh sản hiện nay cao, làm sao quý vị biết được là số người chết không cao hơn số người đang sống? Con số này không thể tính hay chứng minh chính xác bằng khoa học được; chỉ diễn tả bằng một sự so sánh. Khi Đức Phật còn tại thế, có một lần Ngài bốc một nắm cát và nói “Số người có được thân người giống như số cát trong bàn tay ta, còn số người mất thân người thì giống như cát trên trái đất.”. Số người sống trên trái đất dường như vô số, vô hạn. Tuy nhiên, làm sao quý vị biết được số người mất thân người lại không vô số lần nhiều hơn?

Số người chết trong quá khứ thì ít hơn ngày nay. Hiện nay, khó mà ước lượng con số chết vì cuồng phong, hỏa họan, tai nạn xe cộ, máy bay rớt, chiến tranh, và các vụ nổ nguyên tử…  Thêm nữa, rất có thể là những người mất thân người, họ sẽ không được đầu thai làm người.  Họ có thể tái sanh thành kiến, muỗi, hay dã thú. Làm sao chúng ta có thể chứng minh những con số này một cách khoa học?

Sau khi một đứa bé chào đời, làm sao đứa bé đột nhiên lại có ý thức và cảm giác? Những câu hỏi căn bản như thế này, người bình thường không để ý và không nghiên cứu để tìm câu trả lời. Mặc dù có sự gia tăng rất lớn về dân số hiện nay; nhưng những chúng sinh mất thân người còn nhiều hơn trước đây. Trong quá khứ không có quá nhiều kiến, muỗi, bọ và mối. Làm sao quý vị biết là những sinh vật sinh ra từ ẩm ướt, biến hóa hay từ trứng này không từng là người trong tiền kiếp.

Sau khi một người mất thân người, thể tánh hóa linh của người đó giảm đi. Linh hồn của một người có thể biến thành nhiều lọai động vật, ngay cả có thể thành 84,000 con muỗi. Vì trí tuệ của người này bị phân chia ra trong nhiều thân, kết quả là chúng u mê và không còn linh nữa. Nếu người ấy muốn có trở lại thân người, người ấy cần phải “luyện lại từ đầu” như trong nhà máy hóa học, tiến trình này có thể cần thời gian rất dài.

Còn một điểm nữa, mỗi lần một người kết hôn, thì linh hồn của người ấy bị chia ra thêm một phần hay nhiều phần. Thí dụ, một người phụ nữ từng kết hôn với bao nhiêu người đàn ông, thì khi chết linh hồn của người phụ nữ đó cũng sẽ bị cưa ra bấy nhiêu phần cho những người đàn ông đó. Nếu người đàn ông lấy nhiều vợ thì quả báo cũng như vậy. Một vấn đề lớn nữa là phá thai. Khi các bào thai bị phá, chúng mất cơ hội làm người. Ngày nay, số thai nhi chết do phá thai vượt quá số người đang sống!.

Đối với chúng sinh vô tình, họ có thể khôi phục lại linh tánh của họ không?  Có thể được, nếu họ gặp người có khả năng nói Pháp cho họ. Như trường hợp “Khi Đại Sư Đạo Sanh thuyết Pháp, đá cũng gật đầu đồng ý.”. Tuy nhiên, chỉ khi nào những chúng sinh vô tình này gặp bậc thánh nhân hay vị A La Hán, thì mới có được cơ hội như vậy.

Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?

Trích trong ” Khai thị Kinh Lăng Nghiêm

Ðại sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau: “Chẳng đọc Pháp Hoa thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai; chẳng đọc Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ của tu tâm”. Ðích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm bao gồm hết thảy các pháp, nhiếp thọ hết mọi căn cơ, là pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc phải nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh giới “năm mươi loại ấm ma” đặng tránh khỏi sa vào vòng của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận thức cho rõ ràng, thì bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh tâm chấp trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma cảnh, thành kẻ quyến thuộc của ma vương. Ðó là một điều cực kỳ nguy hiểm!

Chẳng riêng Chú Lăng Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người ta nói “thuộc sẽ nẩy cái hay”, thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích, sẽ có sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào nghiên cứu văn học Trung quốc, tất phải đọc Kinh Lăng Nghiêm, văn từ thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ Kinh lý tưởng.

Có một số tự cho mình là học giả có hạng, chưa hề nghiên cứu sâu rộng về Ðạo Phật, đã tự nhận mình là chuyên gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không hiểu Phật giáo cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo. Từ đó lại có một số, có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Ðúng là kẻ mù dắt kẻ mù, thật đáng thương xót!

Tại sao người ta bảo Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì nghĩa lý trong bộ Kinh rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài quỷ trâu, quỷ rắn, không còn cách nào hoành hành, phải hiện rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng tìm mọi cách để phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy, thì chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây là lời Phật thuyết pháp thì đối với chúng là không xong. Trước hết chúng không giữ được “Lời dạy về bốn loại thanh tịnh”, thứ hai chúng không tu tập được các “Pháp viên thông của hai mươi lăm bậc thánh”, thứ ba chúng không dám đối diện với các cảnh giới của “Năm chục loại ấm ma”.

Nếu như ai ai cũng đọc Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo sẽ hết linh ứng, thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông của họ nữa. Ðó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ còn tìm cách dèm pha, tuyên truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy.

Chẳng cứ chỉ những người tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt chước nói theo. Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi không thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu, khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân biệt được chân giả. Ðến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả, Kinh kia là ngụy, thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói sao thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh Lăng Nghiêm bị lãnh tiếng oan là vì lẽ đó.

Lúc xưa tại Ấn Ðộ, Kinh Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ quý ra ngoại quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và, để phòng Kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất cảnh.

Hồi đó tại Ấn độ – bên Trung quốc lúc đó là đời Ðường – một vị cao tăng pháp danh là Ban Thích Mật Ðế (Paramiti) đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung quốc. Sợ bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào sâu trong cánh tay và sau cùng ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng chức xuống làm Thái Thú Quảng Châu. Ban Thích Mật Ðế được Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này và chính Phòng Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng Nghiêm biến thành một tác phẩm văn học có giá trị, rồi sau đó trình lên cho Võ Tắc Thiên. Thời bấy giờ đương có tin đồn Kinh Ðại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Ðế Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.

Ðến khi Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư rồi được cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư thấy được bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu thiền, mới cho Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng Nghiêm mới được lưu hành ở Trung quốc. Căn cứ theo truyền thuyết, Kinh Lăng Nghiêm là Kinh tối hậu truyền đến Trung quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời Mạt Pháp, sau mới đến các Kinh khác, sau rốt còn lại một Kinh A-Di Ðà.

Ghi chú: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt khoát rằng Kinh Lăng Nghiệm chính là tâm ấn của chư Phật, điều này ngàn vạn lần đích xác. Bởi vậy ngay sau khi đặt chân tới Mỹ, Tuyên công liền giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật Pháp truyền bá tới đất Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành Chánh Pháp, và đó là tâm cơ của Thượng nhân trong sứ mạng nối tiếp huệ mạng Phật. Bài “Lăng Nghiêm Kinh Thiển Giảng” sẽ được đưa đăng từng kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành Kim Cương Bồ Ðề Hải, bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin thông báo cùng quý bạn độc giả.

Hỏi: Tại sao đạo Phật lại đề xướng ăn chay?

Ðáp: Người ăn chay thì dục niệm nhẹ. Kẻ ăn mặn thì dục niệm nặng nề. Có tôn giáo cho rằng động vật được sanh ra là để cho loài người ăn, cho nên ăn mặn là một việc hợp lý trời đất. Song le, Phật Giáo đề xướng tinh thần “mọi vật đều cùng một thể, đó gọi là Ðại Bi,” và xem mọi loài chúng sanh đều có Phật-tánh, đều sẽ thành Phật; cho nên chủ trương giới sát, phóng sanh.

Hỏi: Có pháp môn gì, phương tiện gì để khuyên giải những kẻ chuyên lấy việc giết gà giết vịt làm kế sinh nhai?

Ðáp: Phàm lẽ, hễ xưa trót tạo tội, nay đã biết lỗi lầm thì phải lo sửa đổi, không nên tái phạm. Có câu rằng:

Có tội mà biết sửa,
Tội liền biến thành không.

Chư Bồ-tát không thấy chúng sanh có tội lỗi. Chính mình phải tự nguyện thọ trì Giới Luật. Chư Phật và chư Bồ-tát tuyệt đối chẳng bao giờ bày mưu thiết kế gây hại cho chúng sanh, làm chúng ta đọa địa ngục cả. Khi xưa nếu bạn đã phạm Ngũ Giới, nay đừng tái phạm nữa là đủ:

Những việc mình làm từ xưa,
Xem như đã chết theo ngày hôm qua.
Giờ đây những việc mình làm,
Thuộc về đời mới kể từ hôm nay!

Có người giải thích chữ nhục 肉, nghĩa là thịt, như sau:

Chính chúng sanh lại ăn thịt chúng sanh,
Ngẫm ra cho kỹ là người ăn người !

Tại sao nhất định phải dựa vào việc sát sanh để duy trì sự sống của mình chứ?

Vì Sao Cần Phải Niệm Phật?

Vì sao lúc bình thường chúng ta cần phải niệm Phật? Lúc bình thường chúng ta thường niệm Phật là để chuẩn bị cho lúc lâm chung.

Thế thì tại sao không đợi đến lúc lâm chung rồi hãy niệm Phật? Tập quán là thói quen được huân tập qua nhiều ngày, nhiều tháng. Cho nên, nếu bình thường các bạn không có tập quán niệm Phật thì đến lúc lâm chung các bạn sẽ không nhớ ra là mình cần phải niệm Phật. Do đó, lúc bình thường mình cần phải học niệm Phật, tu Pháp-môn Tịnh Ðộ, đến lúc lâm chung mới không hoảng hốt, luống cuống, mà trái lại, sẽ an nhiên vãng sanh Thế Giới Cực-lạc!

Vì sao chúng ta cần phải vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc? Là vì khi Ðức Phật A Di Ðà ở nhân địa tu hành làm thầy tỳ kheo, Ngài đã từng phát bốn mươi tám đại nguyện mà trong đó có nói rằng:

“Sau khi tôi thành Phật, nếu trong mười phương có chúng sanh nào niệm ‘A-Di-Ðà Phật,’ danh hiệu của tôi, thì tôi nhất định sẽ tiếp dẫn người đó tới thế giới của tôi, và trong tương lai, vị ấy sẽ được thành Phật. Ở thế giới của tôi, ai ai cũng đều hóa sanh từ hoa sen, nên thân thể của họ hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm.”

Bởi Ðức Phật A Di Ðà đã phát nguyện lớn như vậy, nên tất cả chúng sanh đều nên tu Pháp-môn Niệm Phật, một pháp-môn rất hợp với căn cơ của mọi người và cũng rất dễ tu. Trong Kinh còn dạy:

Ðời Mạt Pháp, một ức người tu hành hiếm khi có được một người đắc Ðạo; duy có tu Pháp-môn Niệm Phật là ai cũng được độ thoát.

Ý nói rằng trong số một ức người tu hành, hiếm hoi lắm mới có một người đắc Ðạo; chỉ có Pháp-môn Niệm Phật là có thể giúp mọi người vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc và do đó được độ thoát. Ðặc biệt là trong thời Mạt Pháp hiện tại, niệm Phật chính là pháp môn hợp với căn cơ của mọi người nhất.

Song, Âu Mỹ hiện nay không phải đang ở vào thời đại Mạt Pháp mà có thể nói là đang ở vào thời đại Chánh Pháp. Vì sao nói Âu Mỹ đang ở vào thời đại Chánh Pháp? Vì Phật Pháp vừa mới được truyền tới các nước ở phương Tây và hiện đang vào lúc hưng thịnh. Do đó, hiện tại ở Mỹ quốc có rất nhiều người rất thích tham Thiền, tịnh tọa; đó cũng là biểu hiện của Chánh Pháp.

Thời Chánh Pháp, ai cũng có thể tu Pháp-môn Niệm Phật. Thời Mạt Pháp mọi người cũng có thể tu Pháp-môn Niệm Phật, ở bất cứ thời đại nào mình cũng có thể tu pháp môn này. Nếu như có người đối với các pháp môn khác không thể dụng công được, thì nên tu Pháp Niệm Phật. Thiền-sư Vĩnh Minh Diên Thọ có nói rằng:

Hữu Thiền, hữu Tịnh Ðộ,

Do như đái giác hổ.

(Có Thiền, có Tịnh-Ðộ,

Như hổ mọc thêm sừng.)

Những người vừa tham Thiền và vừa niệm Phật thì giống như cọp mà mọc thêm sừng, oai thế vô cùng. Họ có thể:

Hiện thế vi nhân sư,

Tương lai tác Phật Tổ.

(Ðời này làm Thầy mọi người,

Tương lai thành Phật, làm Tổ.)

Do đó, người chân chánh tham Thiền tức là người chân chánh niệm Phật, người chân chánh niệm Phật cũng chính là người chân chánh tham Thiền. Nói sâu một chút nữa, người chân chánh trì Giới chính là người chân chánh tham Thiền, và người chân chánh tham Thiền cũng là người chân chánh trì Giới. Thế thì, người chân chánh giảng Kinh thuyết Pháp, tức là người thật sự vì giảng Kinh mà giảng Kinh, thì cũng là người chân chánh tham Thiền!

Trong Chứng Ðạo Ca, Ðại-sư Vĩnh Gia có nói rằng:

Tông diệc thông, Thuyết diệc thông,

Ðịnh, Huệ viên minh bất trệ không.

(Tông cũng thông, Thuyết cũng thông,

Ðịnh, Huệ sáng tròn chẳng trệ không.)

Vậy, người vừa biết tham Thiền lại vừa biết giảng Kinh là người thông suốt cả tông lẫn thuyết. Nói sâu một chút nữa, thì người chân chánh trì Chú, chân chánh tu Mật Tông, cũng là người chân chánh tham Thiền. Vì lẽ đó, tuy nói Thiền, Giáo, Luật, Mật, Tịnh là năm pháp môn, nhưng nếu xét đến ngọn nguồn thì tất cả chỉ là một chứ không phải là sai khác. Nếu giảng sâu thêm chút nữa thì ngay cả “một” cũng chẳng còn, thì làm gì mà có “năm” được chứ? Người chân chánh học Phật Pháp cần phải hiểu điểm này cho rõ ràng.

Những kẻ có khuynh hướng phân chia tông phái thì cho rằng Pháp-môn Niệm Phật cao nhất, còn Tham Thiền là không đúng; cũng có người nói Tham Thiền là pháp cao nhất, còn Niệm Phật là sai lầm, những ai có quan niệm như thế đều là những người chưa hiểu rõ Phật Pháp. Phải biết rằng:

Nhất thiết giai thị Phật Pháp, giai bất khả đắc.

(Tất cả đều là Phật Pháp, đều không thể chứng đắc.)

Ðã “không có pháp gì có thể chứng đắc được,” hà tất phải chấp trước thêm những thứ không nên chấp trước, đương không có chuyện lại tìm thêm chuyện, hoặc gây ra chuyện.

Nếu các bạn thật sự hiểu rõ pháp, thì “không có pháp gì có thể chứng đắc được.” Song le, đối với những ai không hiểu Phật Pháp mà mình nói rằng cái gì cũng hoàn toàn không có cả thì họ sẽ thất vọng. Do đó, Ðức Phật dạy Quyền Pháp (Giáo pháp quyền biến, tạm thời) để đưa về Thực Pháp (Pháp chân thật) và thuyết giảng Quyền Trí để dẫn về Thực Trí.

Vậy, Thực Trí là gì? Thực Trí là một “quy vô sở đắc,” trở về lại chỗ không chứng đắc. Thứ tướng chân thật, không có hình tướng, nhưng cũng chẳng có “không có hình tướng,” mới chính là trí huệ chân thật vậy!

24/03/2010 - Posted by | d) PHẬT HỌC VẤN ĐÁP

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: